=== Udhr Vi ===

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền  (1948) 
của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, do Wikisource dịch từ tiếng Anh

• thông tin về bản này. 

• các dự án wiki khác: bài viết Wikipedia, thể loại Commons, mục Wikidata.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Tuyên bố phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ hai và là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên trên thế giới, trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân, được hưởng, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác.— Trích dẫn từ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Wikipedia, bách khoa toàn thư mở.

24722Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyềnĐại hội đồng Liên Hiệp Quốc1948

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ
VỀ NHÂN QUYỀN

Lời nói đầu

Xét thấy sự công nhận phẩm giá vốn có và những quyền lợi bình đẳng và không thể nhân nhượng của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của sự tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới,

Xét thấy sự bất chấp và coi thường quyền con người đã dẫn đến những hành động man rợ làm tổn thương lương tâm của nhân loại, và sự mong đợi về một thế giới trong đó nhân loại sẽ được hưởng quyền tự do ngôn luận và đức tin, và quyền tự do không bị khủng bố và đau khổ, đã được tuyên bố là khát vọng cao nhất của con người,

Xét thấy rằng cần thiết phải bảo vệ quyền con người bằng pháp quyền để con người không bị buộc phải phản kháng chống lại sự chuyên chế và áp bức như một biện pháp cuối cùng,

Xét thấy rằng cần thiết phải khuyến khích sự phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia,

Xét thấy nhân dân các nước Liên Hiệp Quốc, trong Hiến chương, đã khẳng định lòng tin về những quyền con người cơ bản, phẩm giá và giá trị của mỗi con người và quyền bình đẳng giữa nam và nữ, và đã kiên định khuyến khích sự tiến bộ xã hội và những tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với những quyền tự do rộng lớn hơn,

Xét thấy các Quốc gia thành viên đã cam kết, cùng với Liên Hiệp Quốc, đẩy mạnh sự tôn trọng phổ quát và tuân thủ những quyền và quyền tự do cơ bản của con người,

Xét thấy việc đạt được một sự hiểu biết chung về những quyền và quyền tự do này là điều quan trọng nhất để có thể hiện thực được cam kết,

Do đó, hôm nay,

Đại hội đồng

Công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền này như một lý tưởng chung mà mọi người và mọi quốc gia đều phấn đấu đạt đến, với mục tiêu cuối cùng là từng cá nhân và từng bộ phận của xã hội, khi luôn ghi nhớ Tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu, thông qua giảng dạy và giáo dục, nhằm nêu cao sự tôn trọng các quyền và quyền tự do này, và bằng các biện pháp tiến bộ, ở tầm quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự công nhận và tuân thủ một cách phổ quát và hiệu quả, cả trong nhân dân của các Quốc gia Thành viên lẫn nhân dân của các lãnh thổ thuộc quyền tài phán của họ.

Điều 1

Mọi con người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi. Họ được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và phải đối xử với nhau với tinh thần huynh đệ.

Điều 2

Tất cả mọi người đều được hưởng mọi quyền lợi và quyền tự do được ghi trong Tuyên ngôn này, bất kể mọi sự khác biêt, về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, địa vị khi sinh ra hoặc địa vị khác.

Ngoài ra, không có bất kỳ sự phân biệt nào đối với nền tảng về tình trạng chính trị, tài phán hoặc quốc tế của đất nước hoặc lãnh thổ của một người, dù nó là lãnh thổ độc lập, ủy thác, không có tự chủ hoặc bị các hạn chế về chủ quyền khác.

Điều 3

Tất cả mọi người đều có quyền sống, quyền tự chủ và quyền an toàn cho cá nhân.

Điều 4

Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hoặc nô dịch; chế độ nô lệ và việc buôn bán nô lệ bị cấm dưới mọi hình thức.

Điều 5

Không ai có thể bị tra tấn hoặc bạo hành, hoặc phải nhận sự đối xử hoặc trừng phạt một cách vô nhân tính và hèn hạ.

Điều 6

Tất cả mọi người đều có quyền được luôn luôn công nhận như một con người trước pháp luật.

Điều 7

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và đều có quyền được hưởng sự bảo vệ bình đẳng của pháp luật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Mọi người đều có quyền được hưởng sự bảo vệ bình đẳng chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vi phạm Tuyên ngôn này và chống lại bất kỳ sự kích động nào dẫn tới sự phân biệt đối xử đó.

Điều 8

Tất cả mọi người đều có quyền thực hiện một biện pháp khắc phục hiệu quả do tòa án quốc gia có thẩm quyền quyết định vì những hành vi vi phạm những quyền cơ bản mà hiến pháp hoặc pháp luật đã trao cho người đó.

Điều 9

Không ai có thể bị bắt giữ, giam giữ hoặc lưu đày một cách tùy tiện.

Điều 10

Tất cả mọi người đều có quyền, với sự bình đẳng hoàn toàn, được hưởng một phiên tòa công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và công tâm, nhằm định đoạt những quyền và nghĩa vụ của người đó hoặc định đoạt các cáo buộc phạm tội chống lại người đó.

Điều 11

1. Tất cả mọi người khi bị buộc tội hình sự đều được giả định vô tội trước khi bị chứng minh là có tội theo pháp luật trong một phiên tòa công khai nơi người đó có được mọi sự đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình.

2. Không ai có thể bị tuyên bố phạm tội hình sự vì bất kỳ hành vi hoặc thiếu sót nào, vào thời điểm diễn ra, không cấu thành tội hình sự theo luật pháp quốc gia hoặc quốc tế. Tương tự, không ai phải nhận một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng vào thời điểm diễn ra hành vi phạm tội.

Điều 12

Không ai có thể bị xâm phạm tùy tiện quyền riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư từ của mình, cũng như bị tấn công vào danh sự và uy tín của mình. Tất cả mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ trước hành vi xâm phạm hoặc tấn công như vậy.

Điều 13

1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi biên giới của mỗi Quốc gia.

2. Tất cả mọi người đều có quyền rời khỏi đất nước, bao gồm cả đất nước của chính người đó, và trở lại đất nước của mình.

Điều 14

1. Tất cả mọi người đều có quyền mưu cầu và hưởng thụ sự tị nạn khỏi bị bức hại tại các quốc gia khác.

2. Quyền này có thể không được áp dụng trong trường hợp sự khởi tố thực sự xuất phát từ những tội ác phi chính trị hoặc từ những hành vi đi ngược với mục đích và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Điều 15

1. Tất cả mọi người đều có quyền có quốc tịch.

2. Không ai có thể bị tùy tiện tước quốc tịch hoặc bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch của mình.

Điều 16

1. Người nam và người nữ, khi đã đủ tuổi, có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không có bất kỳ hạn chế nào do chủng tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo. Họ có quyền được hưởng những quyền bình đẳng khi tiến hành kết hôn, khi đang kết hôn và khi ly dị.

2. Kết hôn chỉ được diễn ra khi có sự đồng ý tự do và đầy đủ của các bên phối ngẫu.

3. Gia đình là yếu tố cấu thành tự nhiên và cơ bản của xã hội và được quyền hưởng sự bảo vệ của xã hội và Quốc gia.

Điều 17

1. Tất cả mọi người đều có quyền sở hữu tài sản một mình hoặc cùng chung với người khác.

2. Không ai có thể bị tùy tiện tước đoạt tài sản.

Điều 18

Tất cả mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hoặc niềm tin, và quyền tự do biểu thị tôn giáo hoặc niềm tin qua việc giảng dạy, thực hành, thờ phượng và tu tập, với tư cách cá nhân hoặc trong cộng đồng nhiều người và ở nơi công cộng hoặc chốn riêng tư.

Điều 19

Tất cả mọi người đều có quyền tự do ý kiến và bày tỏ; quyền này bao gồm quyền tự do giữ ý kiến mà không bị cản trở hoặc quyền tìm kiếm, tiếp nhận và lan truyền thông tin và ý tưởng thông qua bất kỳ phương tiện biểu đạt và bất chấp biên giới nào.

Điều 20

1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do tụ họp hòa bình và lập hội.

2. Không ai có thể bị cưỡng bách tham gia hội nhóm nào.

Điều 21

1. Tất cả mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền của đất nước của mình, một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được lựa chọn một cách tự do.

2. Tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận một cá

=== Bai Tua Truyen Kieu ===

Bài tựa Truyện Kiều
của Chu Mạnh Trinh, do Đoàn Quì dịch

• thông tin về bản này. 

Bản dịch đăng trong Nam Phong tạp chí.

30881Bài tựa Truyện KiềuĐoàn QuìChu Mạnh Trinh

Giá sử ngay khi trước, Liêu-dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay; quan lại công bằng, án Viên-ngoại tỏ ngay tình oan uổng; thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười; mà chắc biên-thùy một cõi nghênh-ngang, ai xui được anh-hùng cởi giáp. Thì sao còn tỏ được là người thục-nữ mà đủ đường hiếu nghĩa, tay đàn bà mà lại có cơ quyền. Thế mới biết: người khôn thì hay gặp gian truân, chuyện đời khéo lắm trò quanh quẩn.

Con tạo-hóa vốn thương yêu tài sắc, nàng đà biết thế hay chưa? Khách má hồng đừng giận nỗi trăng già, ta cũng khuyên lời phải chẳng. Chỉ vì một tội: mối manh chưa có, thề thốt đã nhiều; trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi. Cũng có người bảo: tại nước chẩy mây trôi lỡ bước, nên cành đưa lá đón quen thân. Nào biết đâu bông hạnh nở ngoài tường, chưa để con ong qua tới; cho có muốn lưỡi dao liều với mạng, lại sợ thành cháy vạ lây. Tấm lòng này như tuyết như gương, mối sầu nọ qua ngày qua tháng. Ngọc kia không vết, giá liên thành khôn xiết so bì; nước đã trôi xuôi, hồn cựu-mộng hãy còn vơ-vẩn.

Bàn cho thật phải, tình cũng nên thương. Lại xem như bút mực tài hoa, đoạn-trường mười khúc; trúc tơ phong nhã, hồ cầm một chương; câu thần vẳng giọng tiêu-tao, bóng ngọc tưởng chiều não-nuột; hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, vậy nên khách đa tình say chuyện phong lưu, trăm năm cũ còn ghi tên tuổi hão; người chép sách tiếc vì tài sắc, nghìn thu sau nhặt cái phấn hương thừa.

Than ôi! một bước phong trần, mấy phen chìm nổi; trời tình mờ mịt, bể giận mông mênh. Sợi tơ mành theo gió đưa đi, cánh hoa rụng chọn gì đất sạch. Ai dư nước mắt khóc người đời xưa; thế mà giống đa-tình luống những sầu chung, hạt lệ Tầm-dương chan chứa. Lòng cảm cựu ai xui thương mướn, nghe câu ngọc-thụ não nùng. Cho hay danh-sĩ giai-nhân, cùng một kiếp hoa nghiêm nặng nợ. Ngán nỗi non xanh đất đỏ, để riêng ai luân lạc đau lòng. Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu. Cái kiếp không hoa lẩm-cẩm, còn hồn xuân-mộng bâng-khuâng. Đã toan đúc sẵn nhà vàng, chờ người quốc sắc; lại muốn mượn chùm phương-thảo, hú vía thuyền-quyên. Sẵn bút nghiên chia vịnh từng hồi, đem sự tích tóm làm một tựa. Bây giờ kể còn dài chưa hết, hạt ba-tiêu như thánh thót mưa thu. Hỡi ôi! hồn còn biết hay chăng? Bóng hoàn-bội tưởng ra vào Lạc-phố!

 
 

Chú thích

• ▲ Liêu-dương là quê Kim-Trọng.

• ▲ Ý nói làm thân phận một người đàn bà có tài sắc mà lại gặp bước lưu lạc.

• ▲ Đây nói hồi nàng Kiều phải tay Mã-giám-sinh lừa, đã toan tự vẫn, sau nghĩ đi nghĩ lại, sợ vạ lây đến cha mẹ, lại thôi.

• ▲ Thúy-Kiều khi đi chơi thanh-minh về nằm mộng thấy Đạm-Tiên đưa cho mười đầu bài thơ đoạn-trường để nàng vịnh.

• ▲ Tức là bến Tầm-dương nói trong bài « Tì bà hành » của ông Bạch-cư-Dị; ý nói nước mắt khóc người bạc-mệnh.

• ▲ Ngọc-thụ 玉 樹 là cây ngọc, ví với người đẹp. Câu cổ: không nỡ trông thấy cây ngọc chôn ở trong đất. Lời viếng một người chết.

• ▲ Hoa = tốt đẹp; nghiêm = nghiêm trang. Kiếp hoa-nghiêm nghĩa bóng chỉ cái kiếp luân-hồi của người ta (tiếng trong kinh Phật).

• ▲ Như nói người cùng một hội một thuyền, cùng một số kiếp.

• ▲ Không-hoa là cái hoa không có thực mà mình mơ tưởng là có; xuân-mộng là cái buổi xuân-xanh ngắn-ngủi như giấc chiêm-bao. Cả câu này ý nói: mình vẫn mê-man trong cõi sắc chưa tỉnh biết nó là cái hoa không; lại ngậm-ngùi về nỗi tuổi xuân vui thú chỉ ngắn-ngủi như giấc chiêm-bao.

• ▲ Tích cũ Vua Hán Vũ-đế ước lấy được nàng A-Kiều, nói: « Được người này thì lấy vàng làm nhà cho ở ».

• ▲ Là cỏ thơm.

• ▲ Hoàn-bội là ngọc đeo của đàn bà.

• ▲ Lạc-phố là bến sông Lạc, chỗ nàng tiên ở, theo điển trong Sở-từ.

  Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.

 Bản gốc: 

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 

Public domainPublic domainfalsefalse

 Bản dịch: 

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng tại các quốc gia có thời hạn bảo hộ bản quyền là cuộc đời tác giả và 80 năm sau khi tác giả mất hoặc ngắn hơn.

Tác phẩm không chắc chắn đã thuộc phạm vi công cộng tại Hoa Kỳ nếu nó được phát hành từ năm 1931 đến 1977. Để có phiên bản dùng được cho Hoa Kỳ, xem {{PVCC-1996}}.

 

Public domainPublic domainfalsefalse


=== Tua Truyen Kieu ===

Tựa Truyện Kiều  (1820) 
của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân, do Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim dịch

• thông tin về bản này. 

Bài tựa Truyện Kiều bằng Hán văn do Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân viết, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim dịch, in ở đầu quyển Truyện Thúy Kiều, Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản ở Hà Nội năm 1925.

Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân12952Tựa Truyện Kiều1820Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim

Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế mà lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhịn thế nào được mà không thở than rền rĩ!

Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình, tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm nhân đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa lòa nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏa ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy!

Còn đến bậc tuyệt thế tài tình, mặt ngọc vẻ hoa, lòng gấm miệng vóc, ngâm thơ liễu nhứ, nổi tiếng đài gương vịnh phú ngô đồng, khoe tài ấn bút, nếu một bậc quán tuyệt thiên thu như thế, lại gặp được bậc chân chính tài nhân, kết duyên tác hợp, khi thơ ngâm hoa nở, khi đàn gảy trăng lên, nguồn ái ân trọng nghĩa trăm năm, truyện phong lưu chép thành một lục, người đương vào cảnh ấy đã không gặp phải nỗi khảm kha bất bình, thì người truyền lại việc ấy còn phải đặt ra truyện Đoạn trường tân thanh làm gì!

Chỉ vì dịp may dễ lỡ, việc tốt thường sai, tiếng hoàn lạnh ngắt, còn trơ bóng trúc lung lay mặt ngọc vắng tênh, chỉ thấy đào hoa hớn hở. có tài mà không gặp được tài, có tình mà không tả được tình, tài tình đã tuyệt thế, gặp toàn bước khảm kha, há không phải là con Tạo đang tay ách người quá lắm ru? Ấy chính là truyện Đoạn trường tân thanh vì đấy mà làm ra vậy.

Truyện Thúy Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không cần bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi, Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình thì vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường thì lại là cái tiếng mới vậy. Trong một tập thi chung lấy bốn chữ "Tạo vật đố tài" tóm cả một đời Thúy Kiều: khi lai láng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi nỉ non tiếng nguyệt, khách dưới đèn đắm khúc tiêu tao; khi duyên ưa kim cải, non bể thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía, cõi đi về nghĩ cũng chồn chân; khi kinh kệ, khi can qua, mùi từng trải nghĩ càng tê lưỡi. Vui, buồn, tan, hợp, mười mấy năm trời, trong cuốn văn tả ra như hệt, không khác gì một bức tranh vậy.

Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh gảy xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn trường tân thanh cũng phải.

Ta nhân lúc đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, thì tài nào có cái bút lực ấy. Bèn vui mà viết bài tựa này.

Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một; người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thông lụy của của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy.

Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ ra rằng cái nợ sầu của hai chữ tài tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở đằng sau quyển Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc đoạn trường để than khóc người xưa.

(Tháng hai, niên hiệu Minh-Mệnh, viết ở Thán hoa hiên đất Hạc giang.

Tiên phong, Mộng liên đường chủ nhân)

 
 

Chú thích

• ▲ Tạ Đạo Uẩn ngâm thơ liễu nhứ

• ▲ Mạnh Hạo Nhiên vịnh cây ngô đồng

• ▲ Vượt hơn tất cả xưa nay

• ▲ Bởi chữ "thiên tác chi hợp" ở kinh trời xe duyên vợ chồng

  Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.

 Bản gốc: 

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 

Public domainPublic domainfalsefalse

 Bản dịch: 

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì thời hạn bảo hộ bản quyền của nó đã hết ở Việt Nam. Nếu là tác phẩm khuyết danh, nó đã được công bố lần đầu tiên trước năm 1960. Đối với các loại tác phẩm khác, tác giả (hoặc đồng tác giả cuối cùng) của nó đã mất trước năm 1976. (Theo Điều 27, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009 bắt đầu có hiệu lực từ năm 2010 và điều khoản kéo dài bản quyền đối với tác phẩm khuyết danh từ 50 thành 75 năm nhưng không hồi tố)

Ngoài ra, một tác phẩm của Việt Nam thuộc phạm vi công cộng tại Việt Nam theo quy định này cũng thuộc phạm vi công cộng tại Hoa Kỳ chỉ nếu nó thuộc phạm vi công cộng tại Việt Nam vào ngày 23 tháng 12 năm 1998, tức là: tác phẩm khuyết danh đã được công bố lần đầu tiên trước năm 1948; đối với các loại tác phẩm khác, tác giả (hoặc đồng tác giả cuối cùng) của nó đã mất trước năm 1948 và tác phẩm chưa bao giờ được xuất bản tại Hoa Kỳ trước ngày 23 tháng 12 năm 1998. (Theo Tuyên cáo 7161 của Tổng thống Bill Clinton áp dụng Đạo luật Thỏa thuận Vòng đàm phán Uruguay (URAA) đối với các tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam)

Public domainPublic domainfalsefalse


=== Tong Vinh Truyen Kieu ===

Tổng vịnh Truyện Kiều
của Chu Mạnh Trinh

• thông tin về bản này. 

Bài này trong "Thanh-tâm tài nhân thi tập".

16700Tổng vịnh Truyện KiềuChu Mạnh Trinh

Cuốn ngỏ rèm xuân trải mấy sương,

Sắc tài chi lắm để làm gương.

Công cha bao quản liều thân thiếp;

Sự nước xui nên phụ với chàng.

Cung oán nỉ-non đàn bạc mệnh,

Duyên may dun giủi lưới Tiền-đường.

Hai bên vẹn cả tình cùng hiếu,

Đem bắc đồng cân đáng mấy vàng.

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 

Public domainPublic domainfalsefalse
